Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

Chông chênh tài năng học phí Đại học - Phần cuối: "Học phí giờ chưa tạo sự công bằng trong giáo dục".

Thưa ông

Chông chênh học phí Đại học - Phần cuối:

Chỗ nào làm tốt cũng không được tài trợ nhiều hơn. Tuy nhiên.

Như vậy theo ông. Nên các trường đổ xô đi mở những ngành không cần đầu tư cơ sở vật chất.

Chất lượng đi đôi với học phí. Các trường công lập không phân biệt đều được tài trợ như nhau. Có các chương trình kết liên. Đặc biệt là những ngành kỹ thuật có thêm chi phí về phòng thử nghiệm. Do quốc gia có tài trợ. Hoặc có nơi 2. Ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo so với khu vực hay không.

Những trường có học phí cao nhưng có nguồn tuyển sinh vào đạt số lượng đề nghị. Tôi nhìn trên tình trạng mà tạm gọi là thị trường.

Thưa ông? PGS. Hiện trong các trường ĐH công lập. Nãy giờ chúng ta đã bàn nhiều vấn đề về học phí. Tôi cho đó là việc hợp lý. Ông có nghĩ suy gì về vấn đề này? PGS.

Nhưng song song nó tạo ra sự lệch hướng là việc đổ xô học ngành đó. Người học ra trường đi làm không như ý muốn thì người học có thể có những áp lực để nhà trường cải thiện. 000 đô la. Sĩ số cũng rất nhiều nhưng đầu tư cho cơ sở vật chất cho chính trường đó lại rất ít.

Tôi cho có chất lượng hợp lý. Có phải rào cản học phí mà đại học VN nặng về lý thuyết.

Chất lượng có cao chăng nữa cũng chỉ đáp ứng lĩnh vực đó thôi. Về chất lượng của trường mình thì nhà tuyển dụng tự đánh giá điều đó. Đây là một sự tiến bộ. Còn mình giờ lại đang lẫn lộn.

Người bỏ tiền ra cho người đó đi học. Ứng đầu tư cho nhà trường cần phải tăng để đúng với hoài đó đầu tư cho cơ sở vật chất. Người nghèo không đủ sức trả học phí đó. Mỗi trường tự chịu trách nhiệm uy tín của trường mình. GDP/người hiện giờ khoảng 1. Thưa ông. Thứ ba là quản lý và một số vấn đề khác. Vấn đề là học phí cần phải tăng. 000 đô la.

TS Nguyễn Thiện Tống. Bây chừ học phí ở các trường ĐH-CĐ công lập được các trường “kêu” tụt hậu so với tình hình kinh tế thị trường và có khoảng cách với đầu tư cơ sở vật chất của các trường.

Hiện nay phí đào tạo tại các trường ĐH VN so với các nước trong khu vực như thế nào? PGS. Tôi cho như vậy mới hợp lý. Học với mức học phí thấp hơn. Nhân nói đến mức học phí cao thấp. Thứ hai là vấn đề công bằng xã hội.

Ở các nước đều có cái gọi là “lưới an toàn”. Nhưng có một điểm không hay ở chỗ này là những người có điều kiện tài chính đóng góp vào đó mà học.

Lại thiên về phía trường tư thục thuần túy. Như vậy phí cho 1 sinh viên với mức trên 120% là phải hơn 2. Ông có thể lý giải nguyên nhân vì sao? PGS. Nghe cuộc phỏng vấn: PGS. Hiện có những trường phát triển nhiều năm. VN mình. 500 đô la thì tôi cho là vừa phải để đảm bảo chất lượng hay nâng cao chất lượng.

TS Nguyễn Thiện Tống: Phải hiểu rằng học phí trường công lập chưa biểu đạt đúng mức chi phí trên sinh viên. Đối với các nước thu nhập thấp như ở VN. Trong khi có thể điểm không cao bằng người có khả năng tài chính thấp hơn. Cào bằng là ở chỗ này.

Xin cám ơn ông!. Thưa ông. Thưa ông. Ít thực hành hay không. Theo ông việc xác định uổng học tập phải dựa trên những tiêu chí nào cho hợp.

Chương trình chất lượng cao với mức học phí cao nhưng vẫn lôi cuốn đông người học. Mà là vì chủ trương của Nhà nước: không đòi hỏi điều kiện đầu tư cơ sở vật chất kỹ càng trước khi cho mở ngành và thiếu những biện pháp đẩy mạnh nó.

Theo ông việc các trường ĐH ngoài công lập chỉ mong chờ vào học phí của người học liệu có hợp lý hay không? PGS. Học phí cũng khá đáng kể. Theo ông học phí này có cân xứng với chất lượng hay chưa? PGS. Quốc gia cần đầu tư lâu dài. Học phí đó tạo ra chất lượng hợp lý thì người ta vào học. Những trường đó là đóng góp chung với quốc gia.

Và nếu có dư ra số tiền gì thì đầu tư lại cho nhà trường. Không phải vì lẽ đó mà chúng ta yếu kém so với ngoại quốc. Chỗ nào làm tệ cũng được tiếp chuyện duy trì như vậy.

Nâng học phí lên và vẫn có người học. Thưa ông. Nhà nước có quỹ cho sinh viên vay.

TS Nguyễn Thiện Tống: Tôi đặc biệt muốn nói tới ĐH Quốc tế của ĐHQG TPHCM với học phí 2. Vì lợi nhuận. Được nhiều người dự. Thầy có chất lượng. Sĩ số lớp vừa phải thì mới nâng cao chất lượng.

Hai là chi phí về cơ sở vật chất. Giả dụ Nhà nước tạo dịp cho những chương trình VN đạt trình độ chất lượng cao. Những trường ĐH không vì lợi nhuận thì cả thảy những hoạt động của trường là vì sinh viên. Hiện nay phí tổn đào tạo của nước mình tương đối thấp.

Gần đây cũng có chính sách cho sinh viên vay. 800 đô la. TS Nguyễn Thiện Tống: Đúng là đầu tư cho cơ sở vật chất rất nhiều tiền. Hiện mức học phí ở các trường ngoài công lập khá cao so với trường công lập.

TS Nguyễn Thiện Tống: Chúng ta không có quy định rõ ràng những trường ĐH ngoài công lập nào không vì lợi nhuận. Chí phí cho người thầy chiếm tỷ lệ lớn. TS Nguyễn Thiện Tống: Tôi nghĩ chất lượng là thứ khó đánh giá mà tùy vào người học. TS Nguyễn Thiện Tống: Theo tài liệu thống kê các nước của Ngân hàng thế giới.

Hoài đào tạo chiếm từ 120 - 150% GDP trên đầu người. Đấy là vấn đề học phí và chất lượng. Nếu trường nào chất lượng không cao. Người dùng. Biến ĐH thành công ty cổ phần. Như vậy. Những người có vốn là quy định nhà trường. Trong khi những ngành rất cần về lâu dài như khoa học kỹ thuật thì đầu tư rất ít.

TS Nguyễn Thiện Tống: thường ngày. Đầu tư cho giảng dạy. Phòng thể nghiệm. Để người học “trả giá đúng” cho việc thụ hưởng chương trình đào tạo? PGS.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét