Trong khi đó, năm 2012 là 1692 sinh viên ra trường; trong đó số sinh viên có việc làm/sắp đi làm là 28,5%, số sinh viên chưa có việc làm là 56,7% và số không trả lời là 14,9%

TS Khanh cho biết để thực hiện tốt việc thống kê này, nhà trường phải tiêu tốn hàng trăm triệu đồng/năm, nhưng nguồn kinh phí nhà nước cấp cho thì có hạn.
Hiện mình xin dạy hợp đồng tại một trường THPT dân lập ở quê với mức lương 1,5 - 2 triệu đồng/tháng. Tốt nghiệp trường CĐ Sư phạm Hà Nội, nhưng hiện nay, Nguyễn Thị Hoa lại phải làm bảo vệ cho một quán cà phê. Từ năm 2013, Bộ GD-ĐT cũng đã thông tin tình hình đào tạo các ngành nghề và tạm dừng mở mới các ngành đào tạo đang thừa “đầu ra” (như tài chính ngân hàng, quản trị kinh doanh, kế toán…), đồng thời kiến nghị Thủ tướng Chính phủ coi xét, hạn chế thành lập mới các trường đại học đào tạo các ngành này.
Rất nhiều trường không công khai chuẩn đầu ra trên trang web, trường nào có thì thực hành hao hao nhau, mang tính đối phó. Ngọc san sẻ: “Ra trường, mình nộp hồ sơ ở nhiều nơi trong thành thị nhưng không được nhận vì nhiều nơi đề nghị có bằng giỏi, mình chỉ được bằng khá. Thậm chí sinh viên tốt nghiệp những trường “hot” thuộc top trên như ĐH Ngoại thương cũng không tránh khỏi cảnh thất nghiệp.
TS Khanh cũng cho biết, số lượng sinh viên ra trường năm 2013 là 1553 sinh viên; trong đó đã có việc làm/sắp đi làm là 27,3%, số sinh viên chưa có việc làm là 67,3% và số không trả lời là 5,4%. Trong số 984. Cử nhân chật vật tìm việc Sinh viên ra trường không tìm được việc làm, tấm bằng cử nhân đành "vứt xó", phải hài lòng làm trái ngành, trái nghề hoặc làm việc cần lao thuộc hạ thường nhật… Trong khi đó, trong nhiều ngành, nhiều đơn vị lại đang thiếu nhân công, nhân lực.
Đặng Thị Ngọc (quê Bắc Giang) tốt nghiệp lớp cử nhân kiệt năng của trường ĐH Sư phạm Hà Nội đã ra trường 2 năm nay, nhưng vẫn chưa tìm được việc. "Ra trường hơn một năm nay nhưng em chưa tìm được việc làm, phát hồ sơ đi nhiều nơi nhưng cũng không xin được việc.
Khánh An. Bỏ trống việc công khai tỷ lệ sinh viên có việc làm Theo Quy chế thực hiện 3 công khai mà Bộ triển khai từ năm 2009, các trường ĐH, CĐ phải công bố trước xã hội về tỷ lệ sinh viên (SV) có việc làm sau khi ra trường một năm. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chiếm 4,2% (năm 2008); 4,1% (năm 2009) và tăng lên 5,2% (năm 2010), trong đó ở khu vực thành thị là 7,8%, cao gần gấp 2 lần nông thôn (4,3%).
Việc cảnh báo này đã góp phần giúp người học có định hướng và chọn lọc ngành nghề đúng đắn hơn (năm 2013, số hồ sơ đăng ký dự thi nhóm ngành Kinh tế - Quản lý đã giảm 10,5%, trong khi đó nhóm ngành Khoa học sức khỏe tăng 1,7%; Môi trường và Bảo vệ môi trường tăng 1,4%; Công nghệ - Kỹ thuật tăng 0,5%).
Em xin làm bảo vệ ở quán cà phê để lấy tiền trang trải cuộc sống”, Hoa bùi ngùi nói. Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận cho biết, đến nay đã có 150 trường đại học, cao đẳng thành lập trọng tâm tham vấn việc làm và kết hợp với các cơ quan chức năng có can dự tổ chức điều tra về việc làm, dự báo nhu cầu nhân lực.
Sinh viên bây giờ không có sự định hướng nghề nghiệp từ trên ghế nhà trường. Sinh viên tốt nghiệp ĐH xin việc làm đã khó, sinh viên tốt nghiệp hệ CĐ lại càng chật vật hơn khi đi xin việc

Được đánh giá là một trong những trường ĐH có công tác thống kê số lượng sinh viên ra trường tốt nhất, ĐH Sư phạm Hà Nội đã tổ chức hoạt động này trong 6 năm liền; tuy nhiên con số thống kê được chỉ đại diện cho một nhóm nhỏ sinh viên. Việc xây dựng chuẩn đầu ra và công khai thông báo đến người học của các trường TCCN cũng hết sức qua quýt.
TS Nguyễn Công Khanh - Giám đốc Trung tâm Đảm bào chất lượng và Khảo thí, ĐH Sư phạm Hà Nội cho biết: “Chúng tôi gửi các mẫu phiếu khảo sát cho sinh viên tốt nghiệp năm đó nhưng thường nhật chỉ nhận được từ 30-40% phản hồi và sử dụng nó để lên dữ liệu”.
Đây là một nghịch lý đáng lo ngại bây chừ. Không chỉ khối ngành kinh tế mà ở các nghề khác như sư phạm, các ngành từng lớp, kỹ thuật, nhiều sinh viên cũng chật vật cữ việc làm.
000 người thất nghiệp đó, có 55. Tuy nhiên trên thực tiễn, nhiều trường chưa công bố được tỷ lệ này, có trường công bố không đầy đủ hoặc mang tính chất chiếu lệ. “Em sẽ nối tìm việc đến hết năm nay, nếu không tìm được công việc đúng ngành, có nhẽ em phải xin làm lễ tân, tiếp thị… để trang trải cuộc sống”, Ngân cho biết.
000 người thất nghiệp và 136. 900 người thiếu việc làm, số người thất nghiệp từ 15 đến 24 tuổi chiếm gần một nửa (46,8%). Cũng theo một thống kê khác, hơn 60% sinh viên ra trường không có việc làm hoặc phải làm những công việc tạm thời, không đúng với chuyên ngành.
Các trường đã ban bố thì phần nhiều đưa ra những gạch đầu dòng chung chung, mang tính hình thức, chưa xây dựng được những chi tiết cụ thể”. Sau đó mình về quê xin việc nhưng cũng chật vật mãi không xin được vào đâu. Cũng theo Bộ lao động - Thương binh và từng lớp, tình trạng thất nghiệp có khuynh hướng tăng mạnh, tập hợp chính yếu ở nhóm thanh niên thành thị. Mặc dù có số lượng thống kê khá cụ thể, những TS Nguyễn Công Khanh cũng thừa nhận trường ĐH Sư phạm Hà Nội chưa kết hợp với các tổ chức dự báo nhân công và cũng chưa có điều tra cụ thể về nhu cầu của từng lớp đối với ngành sư phạm.
400 người trình độ CĐ (chiếm 5,6%) và 111. Về việc các trường không thực hành nghiêm túc chuẩn đầu ra, trong đó có tỷ lệ SV tốt nghiệp ra trường có việc làm, GS-TSKH Bùi Văn Ga, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT, khẳng định: “Trường nào không làm hoặc làm không đầy đủ, Bộ sẽ chỉnh đốn bằng cách có hình thức nhấc nhất thiết để các trường thực hiện đầy đủ và trang nghiêm”.
Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh, Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ GD-ĐT, thừa nhận: “Đến thời khắc này vẫn có không ít trường chưa xây dựng chuẩn đầu ra.
Vẫn được xem là một ngành học "hot”, dễ kiếm việc, nhưng giờ đây sinh viên khối ngành kinh tế cũng đang chật vật tìm việc làm. Không biết đến bao giờ mình mới có được một công việc chính thức”. Theo báo cáo điều tra cần lao và việc làm Việt Nam của Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm 1/10/2012, trong tổng số 984. Hoàng Thị Ngân, tốt nghiệp loại khá khoa Kinh tế đối ngoại (ĐH Ngoại thương Hà Nội) đã một năm nay nhưng chưa xin được việc làm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét